Trang chủ » BÀN LUẬN » ĐẶT STENT MẠCH VÀNH: THỦ THUẬT, QUY TRÌNH, CHỈ ĐỊNH…

ĐẶT STENT MẠCH VÀNH: THỦ THUẬT, QUY TRÌNH, CHỈ ĐỊNH…

       I. LỜI MỞ

    Đặt stent mạch vành là thủ thuật can thiệp tim mạch rất hiệu quả để tăng cường máu động mạch vành tới nuôi tim trong những ca nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực.  

    Đặt stent mạch vành qua da là thủ thuật can thiệp tim mạch không phải phẫu thuật, stent được chèn vào trong cơ thể nhờ ống thông có bóng ở đầu để mở rộng các động mạch nuôi tim đang bị tắc nghẽn. Nhờ đặt stent mạch vành, mỗi năm hàng triệu người bệnh đã cải thiện lưu lượng máu đến tim, giảm đau thắt ngực, giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột tử.

   Bài viết nhằm đưa lại những thông tin quanh thủ thuật đặt stent mạch vành này.

       II. CÁC LOẠI STENT MẠCH VÀNH

   Stent mạch vành là một giá đỡ động mạch vành, có hình dáng như một ống lưới nhỏ, được cấu tạo bằng kim loại hoặc polymer có phủ thuốc hoặc không phủ thuốc. Hiện nay, có 4 loại stent sau:

   1– Stent kim loại trần (Bare metal stent – BMS): là stent mạch vành thế hệ đầu tiên, nó có khả năng làm giảm nguy cơ tái hẹp sau thủ thuật xuống khoảng 20% – 30% trong 12 tháng; khoảng 1/4 người bệnh gặp tình trạng tái tắc hẹp động mạch vành trong vòng 6 tháng.

   2– Stent có phủ thuốc chống tái hẹp (Drug eluting stent – DES): là stent thế hệ mới giúp làm giảm nguy cơ tái hẹp mạch sau thủ thuật hiệu quả hơn, chỉ còn dưới 10% trong 4 – 5 năm theo dõi. Đây là lựa chọn điều trị tốt cho những người bệnh có nguy cơ cao tái tắc nghẽn động mạch vành, nhất là bệnh nhân mắc kèm đái tháo đường.

   3– Stent tự tiêu sinh học (Bioengineered Stent BES): được cấu tạo bằng một khung polyme đặc biệt có thể hòa tan hoàn toàn trong động mạch sau khoảng 3 – 5 năm, sau đó trả lại lòng mạch với đặc tính tự nhiên, cho phép mạch máu khôi phục lại các chức năng và hoạt động như bình thường. Nguy cơ tái hẹp sau khi đặt stent mạch vành tự tiêu là rất nhỏ, chỉ từ 1-2%.

   4– Stent trị liệu kép (Dual Therapy Stent, DTS): Đây là dòng stent mang ưu điểm của stent tự tiêu và stent phủ thuốc. Khi đặt stent mạch vành, stent trị liệu kép được đưa vào mạch máu sẽ khắc phục nhược điểm hình thành cục máu đông và giảm nguy cơ tái tắc hẹp sau nong mạch đặt stent. Loại stent này cũng là dòng có chi phí cao nhất.

   Dù là với loại stent nào, thì yếu tố quan trọng nhất quyết định tuổi thọ của stent chính là việc tuân thủ điều trị và thay đổi lối sống lành mạnh sau đặt stent của người bệnh. Điều này có thể giúp chung sống khỏe mạnh với một stent mạch vành trong nhiều năm mà không cần phải can thiệp lại.

        III. SỰ CẦN THIẾT, CHỈ ĐỊNH, QUY TRÌNH

     1. Vì sao phải đặt stent

   Đặt stent là giải pháp điều trị tối ưu trong việc điều trị các bệnh lý mạch vành. Đặt stent mạch vành cũng giảm thiểu tối đa các triệu chứng và phòng ngừa biến chứng nhồi máu cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp tim,..

    Tuy nhiên, vẫn có khả năng hình thành mô sẹo bên trong stent sau thủ thuật đặt stent mạch vành. Tình trạng này có thể xảy ra trong vòng 6 – 12 tháng kể từ khi đặt stent. Lúc này, bác sĩ sẽ tìm hiểu nguyên nhân tái hẹp, sau đó tiến hành nong bóng lại và đặt tiếp một stent khác vào trong lòng stent bị tái hẹp.

     Nếu động mạch được căng ra chỉ bằng một quả bóng (nong mạch mà không có ống đỡ động mạch), động mạch có thể “co lại” và thu hẹp lại sau đó với nguy cơ khoảng 30%. Tuy nhiện, tỷ lệ này có thể giảm xuống khoảng 10–15% nếu thực hiện đặt stent mạch vành. Nếu sử dụng loại stent mạch vành phủ thuốc thì nguy cơ sẽ giảm thêm khoảng 2–3%.

   Ngày nay, đặt stent mạch vành được sử dụng trong tất cả các thủ thuật nong mạch. Trừ khi mạch máu quá nhỏ/ quá lớn để đặt stent hoặc bệnh nhân bị dị ứng với vật liệu trong stent (trường hợp rất hiếm gặp). 

    2. Chỉ định đặt stent

   * Động mạch vành bị thu hẹp từ 70% trở lên 

   * Có các triệu chứng đau thắt ngực không thể khống chế được bằng các biện pháp nội khoa.

   * Nhồi máu cơ tim.

    * Đau thắt ngực xuất hiện sau phẫu thuật.

    * Tái hẹp mạch vành sau khi đã can thiệp.

    3. Quy trình đặt stent 

    Việc đặt stent mạch vành được thực hiện thông qua thủ thuật xâm lấn tối thiểu được gọi là can thiệp mạch vành qua da (PCI) hoặc nong mạch vành (PDF). Trước đó, người bệnh sẽ được gây mê tại chỗ, và theo dõi kĩ các chỉ số sinh tồn như nhịp tim, huyết áp, nhịp thở và nồng độ oxy liên tục bằng điện tâm đồ và hệ thống cảm biến dán trên da.

    Thủ thuật đặt stent mạch vành diễn ra như sau:

  * Đưa ống thông mảnh vào động mạch qua đường cổ tay hoặc bẹn, dưới sự hỗ trợ của màn hình X-quang để đi đến vị trí hẹp.

   * Một ống rỗng dài (ống thông) được đưa vào từ mạch máu cổ tay hoặc háng đến phần động mạch bị tắc. Thông qua tia X, bác sĩ có thể theo dõi kĩ phần mạch bị hẹp, tắc và thực hiện các thủ thuật thông qua sợi dây mảnh được đưa vào lòng mạch máu.

    * Sau khi xác định đúng vị trí đoạn mạch, bác sĩ đưa bóng vào, bơm căng bóng lên để nong rộng đoạn động mạch bị hẹp.

    * Tiến hành đo, chụp lại kết quả sau khi nong động mạch bằng bóng. Khi xác định rằng động mạch đã được mở đủ rộng. 

   * Đưa stent vào vị trí mạch cần can thiệp, bơm bóng để stent bung ra, cố định tại lòng mạch.

    * Chụp lại kết quả sau khi đặt stent mạch vành thành công và kết thúc thủ thuật 

        IV. NHỮNG LƯU Ý

    1. Đặt stent tó nguy hiểm không?

    Đặt stent mạch vành là phương pháp can thiệp tim mạch được sử dụng rất phổ biến hiện nay và không gây nguy hiểm nên bệnh nhân không cần quá lo lắng. Quá trình đặt stent mạch vành thường chỉ diễn ra trong vòng 60 phút. Bệnh nhân thường phục hồi rất nhanh sau khi thực hiện thủ thuật. Bệnh nhân sẽ nằm viện theo dõi sau 4 – 6 giờ nếu đặt stent qua háng để kiểm tra tình trạng chảy máu và đi lại, hoạt động bình thường nếu thực hiện qua cổ tay.

   Tình hình sức khỏe sẽ ổn định hơn sau 24h nhưng cần hạn chế các hoạt động nặng và nghỉ ngơi, thư giãn trong vài tuần đầu. Với một số trường hợp đặt stent mạch vành để điều trị đau tim, bệnh nhân cần mất nhiều thời gian hồi phục hơn.

     2. Người được đặt stent sống bao lâu?

    Tuổi thọ của bệnh nhân sau khi đặt stent mạch vành còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Biến chứng sau điều trị, giới tính, tuổi tác, tình trạng sức khỏe và lối sống

     Một nghiên cứu được tiến hành >226 bệnh nhân (trong đó có 209 nam và 17 nữ, độ tuổi trung bình 56 ± 9 tuổi) sau khi đặt stent mạch vành thành công, cho thấy:

   – Tỷ lệ sống sau 1 năm là 99,5% và sau 5 năm là 97,4%.

   – Tỷ lệ bệnh nhân sống không có biến chứng là 84,6% sau 1 năm và sau 5 năm còn 65,9%.

    – Tỷ lệ bệnh nhân sống đi kèm tình trạng thiếu máu cục bộ là 84,6% sau 1 năm và sau 5 năm là 44,8%. 

    3. Rủi ro sau điều trị và mức độ tổn thương tim

    Người đặt stent mạch vành sống được bao lâu còn phụ thuộc vào biến chứng sau điều trị và mức độ tổn thương tim. Bệnh nhân sống khỏe mạnh sau 1 năm không có biến chứng là 75,6% (có tổn thương phức tạp) và 81,1% với trường hợp có tổn thương nhẹ.

    Tỷ lệ bệnh nhân không thể kéo dài tuổi thọ sau khi đặt stent chủ yếu là do biến chứng tái hẹp. Một nghiên cứu khác trên 2944 bệnh nhân đặt stent mạch vành cho thấy, tỷ lệ tái hẹp là khoảng 33,2% (tổn thương nặng) và 24,9% (tổn thương nhẹ). Các trường hợp tổn thương phức tạp thì nguy cơ tái hẹp ngày càng cao.

    Đặt stent mạch vành có hiệu quả cao. Chỉ có 2–3% nguy cơ thu hẹp trở lại và thường xảy ra trong vòng 6–9 tháng đầu sau đặt stent mạch vành. Có thể bị thu hẹp ở các động mạch khác và thường điều trị bằng các stent tiếp theo. Một số biến chứng có thể xảy ra sau khi đặt stent mạch vành:

   – Tái hẹp: thường gặp nhất sau khi đặt stent. Đặc biệt, nguy cơ tái hẹp cao hơn ở những trường hợp thực hiện đặt stent mạch vành bằng kim loại trần, thay vì stent phủ thuốc.

   – Chảy máu tại vị trí da đưa ống vào: chảy máu ở chân hoặc cánh tay nơi đặt ống thông. Tình trạng chảy máu nghiêm trọng có thể xảy ra, thay vì chỉ xuất hiện các vết bầm tím như bình thường, khi đó bệnh nhân cần truyền máu hoặc phẫu thuật.

    – Nhịp tim không đều: nhịp tim có thể đập quá nhanh hoặc quá chậm trong quá trình đặt stent mạch vành. Tuy nhiên tình trạng này chỉ xảy ra trong một khoảng thời gian ngắn.

    – Bị cục máu đông trong vài tháng đầu sau thủ thuật: không hiếm gặp do các cục máu đông hình thành làm tắc nghẽn động mạch và gây ra nhồi máu cơ tim. Do đó, bệnh nhân cần phải sử dụng aspirin và một số loại thuốc khác theo chỉ định để hạn chế nguy cơ này.

   – Vỡ động mạch vành hoặc tắc hoàn toàn động mạch vành: có thể cần phải xử trí bằng cách phẫu thuật bắc cầu động mạch khẩn cấp.

   – Đột quỵ: ít gặp nhưng rất nguy hiểm trong quá trình đặt stent mạch vành. Vì vậy, bác sĩ sẽ chỉ định sử dụng thuốc đông máu để ngăn ngừa nguy cơ này.

   – Nhồi máu cơ tim: Biến chứng này cũng có thể xảy ra trong suốt quá trình đặt stent mạch vành.

    – Ngoài ra, bệnh nhân có thể gặp phải biến chứng tổn thương thận do dị ứng với thuốc cản quang và nhiễm trùng tại vị trí đặt ống thông.

  V. THAM KHẢO

[Video 1] Stent là gì? Đặt stent mạch vành được bao lâu?

[Video 2] Không phải cứ hẹp động mạch vành là phải đặt stent | Video AloBacsi

[Video 3] Giải mã 10 câu hỏi thường gặp về stent mạch vành | PGS.TS.BS Trần Hoà

[1] Stent mạch vành: Thủ thuật, quy trình và chỉ định

https://hongngochospital.vn/vi/stent-mach-vanh

[2] Khi nào cần đặt stent mạch vành, đặt rồi có khỏi bệnh không?

https://suckhoedoisong.vn/khi-nao-can-dat-stent-mach-vanh-dat-roi-co-khoi-benh-khong-169167278.htm

[3] Đặt stent mạch vành được bao lâu? – Cách bảo quản stent lâu dài

https://chuadautim.com/bai-viet/thong-tin-benh/dat-stent-dong-mach-vanh-hieu-qua-trong-bao-lau.html

[4] Đặt stent mạch vành và những điều bạn cần lưu ý

https://www.vinmec.com/vie/bai-viet/dat-stent-mach-vanh-va-nhung-dieu-ban-can-luu-y-vi

[5] Nong mạch vành và đặt stent: Chỉ định, quy trình thực hiện, biến chứng có thể xảy ra

https://www.vinmec.com/vie/bai-viet/nong-mach-vanh-va-dat-stent-chi-dinh-quy-trinh-thuc-hien-bien-chung-co-xay-ra-vi

[6] Stent mạch vành là gì và quy trình thực hiện

https://benhvienthucuc.vn/song-khoe/benh-tim-mach/stent-mach-vanh-la-gi-va-quy-trinh-thuc-hien

[7] Đặt stent mạch vành – 6 biến chứng người bệnh cần biết và Cách để ngăn ngừa

https://suckhoedoisong.vn/dat-stent-mach-vanh-6-bien-chung-nguoi-benh-can-biet-va-cach-de-ngan-ngua-169163887.htm

        TS.BS Trần Bá Thoại

Ủy viên BCH Hội NỘI TIẾT VIỆT NAM